Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Khổng Tử

Ông Khổng Tử ở đầu lưỡi nhà chính trị  

của Phan Khôi 
năm 1929) 


[ Khổng Tử là vị giáo chủ hàng mấy ngàn năm nay ở Á Đông ta. Từ Trung Quốc cho đến Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam ta, chẳng nước nào không nối nhau sùng ngưỡng ông. Đến thời Cận đại học giả Trung Quốc như bọn Lương Nhậm Công, nhiều người xưng tụng Khổng Tử là nhà triết học, nhà giáo dục, mà phủ nhận vai trò nhà tông giáo của ông. Nhưng quả là khảo sát thực tế mới thấy người ta xưa ngưỡng tôn Khổng Tử cũng chẳng khác gì các nước Tây phương tín ngưỡng Gia-tô. Tức là, từ một điểm ấy mà nói, Khổng Tử đúng là một giáo chủ, không nghi ngờ gì nữa. Chẳng nên vì nguyên cớ là Nho giáo thiếu khuyết các nghi thức tông giáo mà phủ nhận vai trò giáo chủ của ông Khổng. Tôi nói như thế là để làm tỏ lối gọi của người mình từ xưa đối với cụ Khổng là : Khổng thánh nhân. Đó là lối nói tâm phục, thành kính từ tận đáy lòng mà không chút nghi ngại gì.
Nhưng đến thời Cận đại, có người đã không vừa lòng với học thuyết Khổng giáo. Có thể là vì do tình thế cấp bách, yêu cầu của thời cuộc mà phải làm thế chăng. Phàm người ta dù chí ngu chăng nữa, cũng chưa thấy ai chĩa mũi dùi vào một vị thánh triết từ mấy ngàn năm mà đả kích hoặc là thi triển những thủ đoạn khuynh loát, huống nữa đó lại là một vị giáo chủ ! Nếu có, đó là một kẻ thô bỉ vậy. Mà dẫu ta có dốc sức đả kích ông Khổng Tử cả đời, ta cũng biết rằng rốt cuộc chẳng làm tổn hại tới ngài chút nào. Nói quá đi nữa, sự đả kích của ta thậm chí nếu có làm mất đi ngôi vị thánh tiên sư đại thành của ngài, thì ta há dám chiếm lấy mà thay chăng ? Do vậy mới thấy đám học giả Trung Quốc gần đây như bọn Ngô Ngu, Trần Độc Tú, Ngô Trĩ Huy,.... có nêu ra những chỗ tỳ vết của học thuyết Khổng Tử, cũng là vì do yêu cầu thời thế mà thôi. Chẳng đừng được mới phải bài trừ, coi Khổng giáo như đối địch với các trào lưu tư tưởng mới, cũng quyết không phải đại mạo phạm mà khai tội bậc thánh xưa đâu. ]
... Các nước Á châu ta nếu muốn sanh tồn ở thế giới ngày nay, và muốn cho mau mau bước lên thế giới đại đồng sau này, tất phải thâu lượm văn hóa của phương Tây. Văn hóa của phương Tây có hai điều lớn, một là khoa học, một nữa là tinh thần dân trị, tức là démocratie. Muốn thâu lượm hai thứ văn hóa đó mà còn để học thuyết của ông Khổng xen vào khoảng giữa thì cũng như kèn xuôi mà trống ngược vậy.
Sao vậy ?
Mấy phái Nho giáo cuối cùng (chỉ vào bọn học giả đời Tống và đời Minh) đã thiên về lối nói “tâm” nói “tánh” cách dạy người, đã thành ra vây cánh của các quân chủ, cái đó đành là trái nhau với hai thứ của văn hóa phương Tây, không cần nói cũng rõ. Lấy ngay bổn thân ông Khổng Tử mà bàn, cũng không có chỗ nào hiệp với thứ văn hóa đó.
Cái Kinh Xuân Thu “ma không thể biết” và cái cuốn Châu dịch “không thể sờ mó” kia, thiệt là thứ huyền học, đã trái với khoa học, lại đến cái thái độ ông Khổng Tử “ba tháng không vua thì ngao ngán lật đật” cùng là “ở bên cạnh vua, nín hơi không thở”, rõ ràng là phái bảo hoàng, còn ích chi cho chủ nghĩa dân trị ? Tuy có thuyết “đại đồng” ở thiên Lễ vận, thuở nay những người phái tôn Khổng vẫn ngợi khen, nhưng chẳng qua là ít câu huyền ảo bông lông, chưa đủ che lấp những việc làm trong một đời ông Khổng.
Cứ đó mà bàn thì nước Tàu ngày nay – Việt Nam cũng vậy – không muốn thừa thọ văn hóa phương Tây thì thôi, nếu muốn thừa thọ văn hóa phương Tây, tất phải xa lìa ông Khổng Tử. Muốn thay đổi văn hóa mà không xa lìa ông Khổng Tử thì chẳng qua cũng lại diễn lại cái trò “Trung học làm thể, Tây học làm dụng” của Trương Chi Động mà thôi. Đối với tiền đồ của con đường tiến hóa quyết không ích chi hết thảy.
... Ta nói câu đó không phải là bài bác ông Khổng Tử, cũng không phải là đổ tội cho ông Khổng Tử. Xưa một khác, nay một khác, ông Khổng Tử tuy thánh, đâu biết có thế giới ngày nay của ta. Vả chăng đạo giáo của ông đã làm phạm vi cho nhơn tâm thế đạo hai ngàn năm nay, trách nhiệm của ông như vầy đã đủ từ chức. Chúng ta còn trách gì ông ?
[ Đối với Khổng Tử, các học giả Trung Quốc cận đại như Chương Thái Viêm, Hồ Thích ra sức luận với cái tình thông thường. Thêm nữa bọn Ngô Trĩ Huy có lúc còn luận đàm quá khích. Họ Ngô đến mức cho cái học của Khổng Tử là cái học “ăn phân” (khiết phẩn chi học). Tôi rất không tán đồng. Còn nói một cách khái quát, đa số học giả Trung Quốc hiện nay đều nhận thấy Khổng giáo không còn thích hợp với các tư trào tư tưởng mới ; đó chẳng phải là lời của riêng tôi tự cho mình có lý lẽ đặc biệt khác lạ đâu.]
Chân tướng của Khổng giáo đã như trên, cho nên mấy ngàn năm nay chỉ làm lợi khí cho bọn bá giả chuyên chế, nói về nước Tàu, thì vua Hán Võ đế là quân tiên phong, mà vua Hồng Hiến (Viên Thế Khải) thì là đội hậu kích. Cầm quyền chánh trị của một người mà muốn giằng buộc lòng người, thống nhứt tư tưởng, khiến cho dân dễ trị, không có phương sách gì hơn phương sách “nâng cao Khổng giáo”. Bởi vậy những nhà chánh trị dã tâm thường hay lợi dụng cái phương sách đó... Trước đây đối với chánh phủ quốc dân bên Tàu, ta không nghi ngờ điều gì, song từ mấy tháng trước, sau khi họ hạ lệnh “tôn Khổng” thì ta lấy làm khó hiểu. Chỉ vì ta không phải người Tàu, không thể quan sát một cách thiết thực. Song le, đảng Quốc Dân đã tuyên bố dùng đảng trị nước thì việc đề xướng Khổng giáo để làm bùa hộ thân, cũng là sự thường vậy.
Việt Nam vài chục năm nay bỏ Hán học mà xoay về Tây học, hiện nay thanh niên trong nước, tư tưởng biến động một cách kịch liệt, những nhà đương đạo lấy làm lo, cho nên có kẻ xướng bàn khôi phục Hán học để mà điều hòa hiện trạng. Song le, Hán học bị bỏ đã lâu, không thể kéo lại được nữa. Cực chẳng đã, những kẻ đương đạo mỗi khi diễn thuyết đám đông người tất phải nhắc tới ông Khổng Tử, luôn luôn dẫn lời kinh, truyện, mong chữa lại hiện trạng lấy một vài, đó là “ông Khổng Tử ở đầu lưỡi nhà chánh trị”. Bọn họ ưa nói thứ nhứt thì là đạo trung dong của ông Khổng Tử. Phàm trưởng quan chánh trị tới một hội nào mà người dự hội phần nhiều từ bực trung lưu trở lên, thì họ hết sức giảng nghĩa trung dong. Ôi ! trung dong là cái vật gì ? cái trung dong của ông Khổng Tử và của cháu ổng là thầy Tử Tư, thì là một vật không thể sờ bắt, ta không sao hiểu được. Còn cái trung dong của người Việt Nam vẫn chôn trong ruột, thì chẳng qua là sự dựa dẫm, là sự sờ mò, là mẹ cái nhát yếu, [là chốn ma quỷ, quả là vũ khí lợi hại vô cùng, là cái “đạt đạo” trong chính sách ngu dân vậy.].
Bài này cũng vì thế mà viết ra.
KHẢI MINH
                                                                                                                                            

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Thảm cảnh tan hoang, nổ nát sau vụ nổ kho pháo hoa tại Phú Thọ

Sau vụ nổ kho pháo hoa ngày 12-10 tại Phú Thọ, ước tính có hàng trăm người đã bị thương vong, khu vực nhà điều hành, nhà kho và xưởng sản xuất của nhà máy Z121 ngổn ngang trong cảnh đổ nát.

Hình ảnh vụ nổ được lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội
Hình ảnh vụ nổ được lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội
Vụ nổ trên xảy ra tại dây chuyền sản xuất A17 của nhà máy Z121 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng - Bộ Quốc phòng), đóng trên địa bàn xã Khải Xuân và Võ Lao, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ - nơi duy nhất trong nước sản xuất và cung cấp pháo hoa để phục vụ những ngày đại lễ. Nguyên nhân ban đầu được xác định do sự cố kỹ thuật khiến thuốc pháo hoa bốc cháy gây cháy nổ và lan sang phân xưởng sản xuất. Ước tính có 17 nghìn thùng pháo hoa cháy trong vụ nổ trên. 
Sau khi vụ nổ xảy ra, trên các trang mạng xã hội, cộng đồng mạng đã lan truyền nhanh chóng những hình ảnh, clip xung quanh vụ nổ. Bên cạnh những dòng chia sẻ thông tin, những lời chia buồn cùng các nạn nhân, nhiều người dân đã bày tỏ sự lo lắng xen lẫn nỗi xót xa với những nạn nhân, gia đình nạn nhân trong thảm họa nổ kho pháo kinh hoàng này. "Xót xa quá Phú Thọ ơi!"; "Thương tâm quá, xót xa quá, những công nhân vất vả ngày đêm công tác miệt mài để làm ra những quả pháo hoa rực rỡ trên bầu trời, có ai biết được đằng sau đó là sự hy sinh gian khổ, nguy hiểm luôn rình rập..."
Đọc thêm tại :
http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=732645#ixzz2hg4cWF8x
doc tin tuc www.xaluan.com

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2013

Vụ 5 cảnh sát bị người dân bắt trói

Bộ công an thông tin vụ 5 cảnh sát bị người dân bắt

Bộ công an chính thức thông tin về vụ việc bắt giữ trái phép cán bộ Công an đang làm nhiệm vụ tại xã Kim Bôi, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình ngày 08/10/2013.

Trên trang mạng xã hội facebook mới lan truyền 2 bức ảnh một số người mặc trang phục cảnh sát bị trói vào ghế trong 1 căn phòng, xung quanh là một số người mặc quần đùi, áo cộc tay. Theo thông tin đi kèm với 2 bức ảnh, 4 công an trong ảnh được cho là làm việc tại Công an huyện Kim Bôi (tỉnh Hòa Bình).
Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an sau đó chính thức đăng tải thông tin về báo cáo của Công an tỉnh Hòa Bình về sự việc xya ra tại xã Kim Bôi, huyện Kim Bôi, Hòa Bình.
Theo đó, ngày 08/10/2013, trực ban Công an tỉnh Hòa Bình nhận được tin báo của một người dân ở xóm Bôi Câu, xã Kim Bôi, huyện Kim Bôi với nội dung: Thời gian qua, trên địa bàn xóm Bôi Câu, xã Kim Bôi có một số người từ nơi khác đến, đem theo máy móc đào đãi vàng trái phép trong khu vực suối thuộc xóm Bôi Câu, làm ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân tại địa phương. Nhân dân trong xóm đã nhiều lần đề nghị các cấp chính quyền tại địa phương nhưng không được giải quyết.
Ảnh lan truyền trên mạng xã hội.
Ngày 07/10/2013, nhiều người dân trong xóm Bôi Câu, xã Kim Bôi đã vây bắt, ngăn chặn số đối tượng đang đào đãi vàng trái phép (bắt trói trưởng xóm Bôi Câu, nhưng sau đó ông này đã trốn được về nhà, các đối tượng đào đãi vàng cũng đã chạy trốn), quần chúng đã thu giữ tại bãi đào đãi vàng 02 sàng, 03 máy xúc, 01 ô tô tải. Nhân dân xóm Bôi Câu đề nghị Công an tỉnh Hòa Bình, chính quyền các cấp chỉ đạo các đơn vị chức năng tiếp nhận số tang vật trên, có biện pháp giải quyết dứt điểm tình trạng đào đãi vàng trái phép gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân.
Ngay sau khi nhận được tin báo, giám đốc Công an tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát Môi trường cử cán bộ phối hợp với Công an huyện Kim Bôi đến địa bàn để giải quyết. Sau khi làm việc với lãnh đạo và các cơ quan chức năng thuộc huyện và xã Kim Bôi, khoảng 19h30’ cùng ngày, đoàn công tác đến hiện trường (xóm Bôi Câu), khi đến hiện trường, một số đối tượng quá khích đã đánh kẻng, hô hoán quần chúng nhân dân kéo đến bao vây, bắt trói (khoảng 15 phút), giữ trái phép tại nhà Văn hóa xóm Bôi Câu 05 đồng chí Cảnh sát thuộc Phòng Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường và Công an huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình và 01 lái xe là ông Đào Hồng Phong, sinh năm 1963, trú tại tổ 30 phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình, gây áp lực yêu cầu cơ quan chức năng phải giải quyết ngay những vấn đề phức tạp xảy ra tại xóm Bôi Câu, xã Kim Bôi thì mới thả người.
Sau khi vụ việc xảy ra, lãnh đạo Công an tỉnh Hòa Bình đã trực tiếp đến hiện trường, chỉ đạo các đơn vị chức năng tuyên truyền, vận động, giải thích cho quần chúng nhân dân, đến 22h00’ ngày 08/10/2013, số người bị bắt giữ trái phép đã được thả.
Lãnh đạo Công an tỉnh đã chủ trì, phối hợp chính quyền huyện Kim Bôi đánh giá, làm rõ nguyên nhân, chỉ đạo tổ chức cuộc họp giữa các cấp chính quyền đối thoại với quần chúng nhân dân xóm Bôi Câu vào hồi 8h00’ ngày 09/10/2013 để xem xét giải quyết các yêu cầu của quần chúng nhân dân; chỉ đạo điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng cầm đầu liên quan đến việc bắt, giữ người trái pháp luật; đồng thời làm rõ hành vi vi phạm của doanh nghiệp trong quá trình nạo vét suối, đào đãi vàng và sai phạm của một số cán bộ xóm, xã; phối hợp các ngành chức năng của huyện Kim Bôi tuyên truyền, giải thích để quần chúng nhân dân hiểu và chấp hành đúng các quy định của pháp luật, không gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn.
Tình hình an ninh trật tự trên địa bàn đã cơ bản ổn định.
Tạ Giang

Thứ Năm, 10 tháng 10, 2013

VỤ “MỘT PHỤ NỮ CHẾT Ở TRẠI TẠM GIAM”

Công an vội chôn bị can

Cái chết của chị Trần Thị Hải Yến còn nhiều uẩn khúc khi công an kết luận Yến tự tử nhưng trên người chị có nhiều vết bầm, thi thể được gấp rút mang đi chôn trong khi người nhà có đơn xin nhận xác

Bà Nguyễn Thị Yên Bình, Trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh Phú Yên, cho biết sáng 10-10, ban này cùng Thường trực HĐND tỉnh tổ chức xem xét lại các vấn đề có liên quan đến việc điều tra, xét xử và cái chết của bị can Trần Thị Hải Yến (SN 1982, ngụ xã An Cư, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) tại Trại tạm giam Công an huyện Tuy An.
Quyết làm rõ có oan sai hay không
Cùng ngày, ông Nguyễn Thái Học, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Phú Yên, cho biết đã có văn bản yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an tỉnh và VKSND tỉnh Phú Yên báo cáo vụ việc trên. Theo ông Hồ Minh Tâm, Phó Viện trưởng VKSND tỉnh Phú Yên, cơ quan này đã nhận được văn bản của Ban Nội chính Tỉnh ủy và chuyển đến các phòng chức năng đề nghị kiểm tra vụ việc.
Ông Nguyễn Thái Học, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Phú Yên (bìa phải), an ủi gia đình chị Yến
Như Báo Người Lao Động đã phản ánh, do liên quan đến một vụ mâu thuẫn gây thương tích, chị Trần Thị Hải Yến bị Công an huyện Tuy An bắt tạm giam từ ngày 15-1. Sau đó, TAND huyện Tuy An phạt Yến 30 tháng tù về tội “cố ý gây thương tích”. Cho rằng mình bị oan, chị Yến kháng án. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 1-7, TAND tỉnh Phú Yên tuyên hủy án sơ thẩm, giao VKSND huyện Tuy An điều tra lại. Trong quá trình tiếp tục bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an huyện Tuy An, ngày 7-10, chị Yến tử vong.
Theo ông Nguyễn Thái Học, bản án phúc thẩm khẳng định việc điều tra, xét xử cấp sơ thẩm có sai sót nên tòa phúc thẩm không đủ chứng cứ để buộc tội bị can Yến, vì vậy đã tuyên hủy án. “Sau khi có báo cáo của các cơ quan liên quan, chúng tôi sẽ xác minh, làm rõ có hay không việc bị can Yến bị oan” - ông Học nói.
“Họ có ý gì đây?”
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Liễu (SN 1954, mẹ chị Yến), một trong những điều gia đình bức xúc là không được đưa thi thể chị Yến về quê chôn cất. Bà Liễu cho biết chiều 8-10, sau khi khám nghiệm tử thi, vợ chồng bà làm đơn xin nhận thi thể con gửi cho ông Trần Việt Cường, Phó Trưởng Công an huyện Tuy An. “Khoảng gần 16 giờ, họ (công an - PV) bảo bây giờ đưa thi thể con tôi về quê. Vợ chồng tôi vội về trước để thu gom quần áo của Yến đưa lên mộ, chỉ còn Trần Thị Diệu Hiền (chị kế của Yến) ở lại bệnh viện trông chừng. Nhưng khi chúng tôi về gần đến nhà (cách Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên hơn 20 km - PV) vào khoảng 16 giờ 30 phút thì Hiền hốt hoảng gọi điện thoại cho biết công an không đưa thi thể con tôi về quê mà lại đưa lên nghĩa trang Thọ Vức, TP Tuy Hòa. Hiền la khóc không chịu nhưng bị họ khống chế và xe cứ chạy” - bà Liễu kể lại.
Nghe tin, gia đình bà Liễu vội quay xe lại, lên nghĩa trang Thọ Vức. Nhưng khi đến nơi thì thấy chị Yến đã được chôn, còn Hiền thì gào khóc trên mộ em. “Gia đình tôi phải nuốt nước mắt để con nằm dưới mộ được yên. Sao họ vội vã đem con tôi đến nơi xa xôi để chôn cất. Họ có ý gì đây?” - bà Liễu hoài nghi.
Trả lời về chuyện này, bà Nguyễn Thị Yên Bình cho biết Công an tỉnh Phú Yên đã căn cứ theo Điều 25, Nghị định 89 năm 1998 của Chính phủ về quy chế tạm giữ, tạm giam để thi hành. Thế nhưng, theo luật sư Ngô Minh Tùng - Trưởng Văn phòng Luật sư số 1 (tỉnh Phú Yên), người bào chữa cho bị can Yến - Điều 25 của nghị định này cũng quy định rõ: Trường hợp thân nhân người chết làm đơn đề nghị và có xác nhận của chính quyền địa phương thì có thể bàn giao thi thể đó cho họ. “Khi gia đình có đơn xin nhận thi thể bị can, cơ quan chức năng phải hướng dẫn họ về địa phương xác nhận rồi bàn giao thi thể bị can cho gia đình đưa về quê mai táng” - luật sư Tùng giải thích.
Cũng theo luật sư Ngô Minh Tùng, ngoài việc khiếu nại chuyện Yến tử vong, gia đình chị cũng yêu cầu phía công an trả lời cụ thể việc không cho đưa thi thể Yến về quê.
Trên người chị Yến có nhiều vết xước, sưng bầm
Ông Phan Trường Sơn (anh rể của chị Yến), người đại diện cho gia đình chứng kiến khám nghiệm tử thi, cho biết có nhiều điểm hoài nghi về cái chết của em vợ mình. Theo thông báo của Công an huyện Tuy An, Yến chết do treo cổ tự tử trong buồng giam. Nhưng theo ông Sơn, trên người Yến như trước trán, 2 bên má, môi và đỉnh đầu phải, ngón chân có nhiều nơi bị xước, sưng bầm. “Với những vết thương này, gia đình chúng tôi không tin em Yến đã thắt cổ tự tử. Hơn nữa, TAND tỉnh hủy án sơ thẩm rồi, sao em tôi tự tử được!” - ông Sơn nhận định. Theo luật sư Ngô Minh Tùng, trong quá trình tiếp xúc, chị Yến là một người khá bản lĩnh. “Quả thực, tôi quá bất ngờ khi một người như Yến lại treo cổ tự tử” - luật sư Tùng băn khoăn.
 
Bài và ảnh: HỒNG ÁNH  
Nguồn:  www.nld.com.vn

Thứ Ba, 8 tháng 10, 2013

PHÓNG SỰ ĐẶC BIỆT TỪ VIỆT NAM ( bài cũ đăng lại )

 GIẾT THÚ VẬT CHỈ ĐỂ VUI ĐÙA VÀ CÂU KHÁCH TRÊN MẠNG

Một đoạn video bí ẩn được đăng tải trên mạng, phút chốc đã lan truyền nhanh chóng chưa từng có trong nước khiến người ta bàng hoàng: trong đó hình ảnh 3 cô gái trẻ vui vẻ giẫm đạp đến chết một con chó con mà mục đích thì được dự đoán là chỉ để vui đùa cũng như để thu hút sự quan tâm của những người sử dụng internet. Đoạn video mà qúy vị đang theo dõi là một loạt sự hành hạ và giết chết con thú nhỏ trong khoảng 12 phút, mà phần tin tức chỉ có thể trích một phần ít tàn ác nhất trong đó. Hình ảnh cho thấy 3 cô gái thản nhiên hành hạ con thú nhỏ trong 1 căn phòng trống và cũ kỹ.

Người xem dễ dàng nhận thấy 3 cô gái khá cao và xinh xắn vừa giẫm đạp chú chó con vừa cười đùa đầy thích thú. Ngay sau đó, đoạn video này được đưa lên facebook như một chiến công. Hành động của 3 cô gái Việt Nam này nhắc người ta nhớ đến một video trước đây cũng gây phẫn nộ, do 3 thiếu nữ Trung Cộng thực hiện, đạp chết một con thỏ bằng giày cao gót. Một cuộc điều tra của Trung Cộng lúc đó cũng cho biết lý do hành động của các cô gái này là do được trả tiền để biểu diễn các màn hành hạ thú, nhằm thu hút sự quan tâm của những người sử dụng internet, trong một mục đích có liên quan đến thương mãi.

Nhiều người cũng dự đoán rằng hành động của 3 cố gái Việt Nam khi thực hiện một công việc dã man như vậy, chỉ liên quan đến 2 điều là muốn chứng tỏ sự nổi trội trên thế giới mạng, và được trả tiền để đăng tải bản video này nhằm mục đích câu khách thương mãi do tính thu hút hiếu kỳ và rùng rợn của nó. Hiện tại ở Việt Nam chưa có đạo luật nào để trừng phạt những kẻ tra tấn thú vật nhưng với đại đa số người nhìn thấy bản video này, thì hành động của các cô gái trẻ người Việt trong nước là đáng bị lên án bởi nó đi ngược lại với các tiêu chuẩn đạo đức thông thường nhất.

Tuy nhiên sự kiện này đang làm cho nhiều nhà đạo đức học, xã hội học trong nước kinh sợ, vì rõ ràng rất khác biệt với tính cách truyền thống là hiếu hòa, nhẹ nhàng của người Việt bao đời nay, thế hệ trẻ sinh ra và được giáo dục trong một chế độ cộng sản vô thần đã trở nên kỳ lạ, lạnh lùng một cách khó tin. Nhiều sự kiện xảy ra trong xã hội lâu như con đánh cha mẹ, bạn bè giết nhau trong trường trung học, mẹ giết con khi mới vừa sinh raàv.v do báo chí trong nước phát hiện, hôm nay, sự kiện này lại làm người ta lo sợ một nước Việt Nam dưới ách CS đang suy đồi tận gốc rễ, khó có thể chữa lành được.


Theo: SBTN

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp: Phải chăng còn thiếu một mắt xích?

Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp: Phải chăng còn thiếu một mắt xích?

Cuối tuần, xin gửi đến các bạn một bài viết mới của tôi, viết cho Nhân dân cuối tuần (!). Đây là bài thứ hai tôi viết cho tờ báo nổi tiếng là ... ít người đọc này (hu hu), vì đó là báo của Đảng, chắc là chỉ có Đảng viên đọc thôi, mà ĐV ở VN thì chỉ chưa đến 5% dân số.

Nhưng kinh nghiệm (hết sức ngắn ngủi) của tôi khi cộng tác với tờ báo này khá là dễ chịu. Tự nhiên có một ngày đẹp trời kia, một PV của báo (nghe giọng nói thì có thể đoán là còn rất trẻ) gọi điện cho tôi và cho biết đã xin số điện thoại của tôi từ một tờ tạp chí mà tôi hay cộng tác, để đặt bài viết về những vấn đề giáo dục đang nóng hổi mà tờ báo quan tâm. Vì đây là báo của Đảng mà, nên tôi hỏi là tôi viết có phải theo định hướng gì không, nhưng câu trả lời là chị cứ viết đúng ý chị, vì đây là vấn đề chuyên môn mà. Không có định hướng gì cả, báo cần câu trả lời chuyên môn cho những vấn đề xem ra chưa có lời giải.

Thế là tôi viết, bài đầu là về tại chức, thấy OK, vì không bị sửa đổi gì (chỉ cắt ngắn đôi  chút cho hợp với phần đất dành cho bài viết). Tưởng chỉ một lần, không ngờ tôi lại được mời thêm lần thứ hai (nhưng quá bận nên tôi đã không hoàn tất được bài), và rồi sau đó là lần thứ ba, tức là lần này.

Có một điều lạ là cậu PV của báo khi gọi cho tôi thì có giới thiệu rằng đã đọc nhiều bài của chị, và thậm chí đã đọc blog của chị (ui da!). Thế mà họ vẫn muốn mời tôi viết, khiến tôi khá ngạc nhiên: Phải chăng đã có ít nhiều thay đổi; Đảng đã bắt đầu muốn nghe những người có ý kiến khác mình?

Nhưng dù có đăng ở đâu thì bài viết của tôi cũng vẫn chỉ chứa những điều tôi thực sự nghĩ và thực sự tin. Nên tôi vẫn cám ơn báo ND đã mời tôi viết và đăng lên; ai biết được sẽ có lúc có người có trách nhiệm và có quyền đọc và ... từ đó tạo ra những thay đổi?

Đây là link dẫn đến bài viết, đã biên tập lại chút ít: http://www.nhandan.com.vn/cuoituan/chuyen-de/item/21342502-thieu-mat-xich-quan-trong.html. Còn bên dưới là bài gốc, chưa biên tập, dài hơn và có nhiều chi tiết hơn.

Enjoy các bạn nhé!
--------------------

Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp: Phải chăng còn thiếu một mắt xích?

Tốt nghiệp rồi thất nghiệp?

“Tốt nghiệp … thất nghiệp” là tựa của một bức biếm họa cười ra nước mắt được đăng trên một tờ báo gần đây. Không hề cường điệu, bức biếm họa đó nhằm minh họa cho một thực trạng đáng buồn của giáo dục đại học Việt Nam. Tình trạng nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm hoặc phải làm những công việc không liên quan gì đến ngành nghề đào tạo đã kéo dài nhiều năm nay.

Bài viết có tựa “Nghịch lý cử nhân … thất nghiệp” vừa đăng ngày 28/9/2013 trên trang web của tờ Petrotimes dẫn số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê cho biết tính đến thời điểm 1/10/2012, trong số gần 1 triệu người thất nghiệp tại Việt Nam hiện nay có đến xấp xỉ 18% số có trình độ cao đẳng và đại học, trong đó cao đẳng là 5,6% và đại học trở lên là 11,3%. Cũng theo bài báo trên, tình trạng cử nhân phải đi làm những công việc không cần có bằng cấp như lễ tân, tiếp thị, hoặc bảo vệ không phải là hiếm, kể cả đối với sinh viên tốt nghiệp những trường tốp trên như Đại học Ngoại thương. Điều này khẳng định lại kết quả của một cuộc khảo sát trên một mẫu khoảng vài ngàn sinh viên do Trường ĐHKHXH-NV thuộc ĐHQG Hà Nội thực hiện và công bố vào năm 2011, theo đó có đến gần 1/3 số sinh viên ra trường rơi vào tình trạng thất nghiệp.

Ở một góc nhìn khác, báo cáo công bố năm 2012 của Viện Chiến lược Công nghệ thông tin về nhân lực của ngành công nghệ thông tin cho biết có đến 72% sinh viên ngành CNTT tốt nghiệp ra trường không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm, 100% không biết trong lĩnh vực nào có thể hành nghề tốt nhất, 70% không thành thạo ngoại ngữ và 77,2% doanh nghiệp CNTT phải đào tạo lại các nhân viên mới. Số liệu mới nhất – thu thập trong năm 2013 – của Trung tâm Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM liên quan đến ngành CNTT vẫn tiếp tục là một gam màu xám. Chỉ có khoảng 30% sinh viên tốt nghiệp là có thể sử dụng ngay, còn lại đều phải đưwcj doanh nghiệp đào tạo lại. Nếu số liệu của ngành công nghệ thông tin –  ngành đào tạo được xem là thế mạnh của Việt Nam – mà còn chẳng có gì là sáng sủa, thì ta hoàn toàn có thể suy ra rằng tình trạng của những ngành nghề khác cũng chỉ tương tự nếu nói là tệ hơn.

Nhà trường và doanh nghiệp: Mối quan hệ kém mặn mà

Sinh viên tốt nghiệp để rồi thất nghiệp vì thiếu kỹ năng, hoặc doanh nghiệp tuyển nhân sự phải bỏ thêm chi phí ra để đào tạo trước khi sử dụng, rõ ràng là một sự lãng phí khó lòng thể chấp nhận.Nhưng làm thế nào để giải quyết tình trạng nói trên? Câu trả lời có lẽ không ai là không biết: Cần phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nhà trường trong quá trình đào tạo ở bậc đại học. Vấn đề là làm thế nào để tạo ra và duy trì sự gắn kết ấy? Trong những năm gần đây mặc dù hầu hết các trường đại học đều có ý thức về vấn đề này và đã có những nỗ lực lớn nhỏ khác nhau để tạo ra mối liên kết với các doanh nghiệp, nhưng kết quả đạt được vô cùng hạn chế. Có thể nói, tuyệt đại đa số các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn không quan tâm gì đến việc tạo dựng quan hệ với các trường đại học.

Không kể đến việc một vài nhân sự trong khối doanh nghiệp có tham gia giảng dạy do có quan hệ cá nhân, sự tham gia của doanh nghiệp đối với quá trình đào tạo tại các trường hiện nay nếu có thường chỉ dừng lại ở chỗ nhận sinh viên vào thực tập tại công ty. Nhưng ngay cả trong việc này thì nhiều doanh nghiệp cũng không thực sự hào hứng, vì cho rằng các sinh viên thực tập chỉ làm vướng chân chứ không đóng góp được gì. Mặt khác, nhiều sinh viên cũng than phiền về việc không học được gì, do nhiều doanh nghiệp không cho phép sinh viên tham gia trực tiếp vào công việc mà chỉ được quan sát chung chung, cũng không có những hướng dẫn hoặc giải đáp khi sinh viên có thắc mắc. Đó là chưa kể tình trạng sinh viên được nhận vào thực tập chỉ để được sai vặt, như được nêu trong một phóng sự có tựa là “Cử nhân thực tập nghề … bê nước, pha trà” trên tờ Tiền Phong vào tháng 1/2013. Nói vắn tắt, các doanh nghiệp không mặn mà bắt tay với các trường đơn giản là vì họ không thấy có ích lợi gì trong việc hợp tác này cả.

Sẽ là không công bằng nếu nói đến sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp nhưng lại chỉ xét đến vai trò của doanh nghiệp mà bỏ qua vai trò của các trường. Thực tế cho thấy, không kể một số trường thực sự năng động và có nhiều quan hệ với doanh nghiệp, hầu như các trường đều không thực sự tích cực để tìm ra những phương cách tạo ra mối quan hệ chặt chẽ với doanh nghiệp. Ngay cả trong việc thực tập – một yêu cầu bắt buộc trong quá trình đào tạo – nhiều trường cũng bỏ mặc cho sinh viên tự đi tìm nơi thực tập, miễn là có sự xác nhận của doanh nghiệp như một thủ tục bắt buộc, rồi sau đó làm một báo cáo mang tính hình thức, thì có thể xem là đã đáp ứng được yêu cầu đào tạo, như trong bài báo đăng trên tờ Tiền Phong đã dẫn ở trên.

Phải chăng sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào lòng tốt và ý thức trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, và chừng nào điều này chưa xảy ra thì việc sinh viên ra trường để thất nghiệp vẫn sẽ là một tình trạng đương nhiên?

 “Vòng xoắn ba” Nhà trường – Doanh nghiệp – Nhà nước: Kinh nghiệm của các nước phát triển

Kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển có thể sẽ gợi ý cho cho chúng ta một vài ý tưởng. Thật vậy, đối với các nước phát triển phương Tây thì sự liên kết chặt chẽ giữa các trường đại học và doanh nghiệp được xem là một điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cả hai phía trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu ngày nay. Trong mối quan hệ này, doanh nghiệp đóng vai trò đòn bẩy kích thích sáng tạo và thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, đồng thời cũng cung cấp thêm một nguồn lực tài chính cho các hoạt động của nhà trường; ngược lại, các trường đại học là nơi sáng tạo ra tri thức mới và tìm tòi các giải pháp cho các vấn đề mà thực tế đặt ra cho các doanh nghiệp, bên cạnh vai trò truyền thống là nguồn cung cấp cho nhu cầu về nhân lực có trình độ.

Cần lưu ý rằng mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp tại các nước phát triển là mối quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chứ không phải là mối hỗ trợ từ một phía. Tại các nước này, các trường đại học – đặc biệt là các trường có tầm cỡ – đồng thời cũng là những trung tâm sáng tạo với những phát minh sáng chế quan trọng, nơi tụ tập những tài năng lớn và đội ngũ nghiên cứu chuyên nghiệp, được nhà nước đầu tư đáng kể về phòng thí nghiệm, trang thiết bị hiện đại để thực hiện những công trình nghiên cứu quan trọng. Tận dụng nguồn lực này để giải quyết những vấn đề của riêng mình qua những hợp đồng khoa học công nghệ chắc chắn sẽ mang lại lợi ích kinh tế cao hơn so với việc từng doanh nghiệp tự đầu tư để thực hiện các nghiên cứu riêng lẻ – tất nhiên là trừ những doanh nghiệp lớn có sẵn bộ phận nghiên cứu và phát triển.

Nhưng mối quan hệ thuận lợi giữa nhà trường và doanh nghiệp tại các nước phát triển không phải tự nhiên mà có. Mặc dù không lộ diện, nhưng trong mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp luôn có sự hiện diện của nhà nước thông qua hệ thống chính sách và môi trường pháp lý. Đó chính là mô hình “vòng xoắn ba” (triple helix) gồm nhà trường – doanh nghiệp – nhà nước mà các tài liệu về nghiên cứu của phương tây thường hay đề cập đến. Một ví dụ rõ ràng là vấn đề sở hữu trí tuệ. Chính vì nhà nước đã tạo ra được một môi trường nơi sản phẩm trí tuệ của các nhà khoa học được bảo vệ chặt chẽ, nên các nhà khoa học phương tây hoàn toàn yên tâm nghiên cứu và phổ biến các ý tưởng sáng tạo của mình rộng rãi đến công chúng. Trong một môi trường như vậy thì các nhà nghiên cứu và các trường mong càng có nhiều người biết đến và áp dụng các ý tưởng và giải pháp của mình để sinh lợi càng tốt,bởi khi doanh nghiệp thu lợi từ ý tưởng của họ thì lúc ấy chính họ sẽ được hưởng quyền lợi chính đáng dành cho người có quyền sở hữu trên sản phẩm trí tuệ ấy.

Một ví dụ rõ ràng khác trong mối quan hệ khắng khít của “vòng xoắn ba” này là vấn đề kiểm định nghề nghiệp và cấp chứng chỉ hành nghề. Ở Mỹ, các hội nghề nghiệp có một vai trò rất quan trọng trong quá trình đào tạo của các trường đại học. Hội nghề nghiệp là nơi xác định các tiêu chuẩn năng lực cần có và nội dung của các kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề của một người bắt đầu bước chân vào một ngành nghề chuyên nghiệp nào đó. Những tiêu chuẩn này đồng thời cũng được đưa vào bộ tiêu chuẩn kiểm định chương trình đào tạo (còn gọi là kiểm định nghề nghiệp, ví dụ như tiêu chuẩn của ABET) để đánh giá chất lượng đào tạo của các trường. Thông qua kiểm định nghề nghiệp, nội dung chương trình đào tạo của các trường sẽ thường xuyên được đánh giá về mức độ cập nhật và phù hợp với thị trường, nhằm tránh tình trạng sinh viên ra trường nhưng không có những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Nhà nước không cần can thiệp vào quá trình kiểm định này, mà chỉ công nhận giá trị của các tổ chức kiểm định nghề nghiệp, và đưa ra các chính sách tài chính đối với người học và nhà trường đối với các trường, chẳng hạn như trường nào không thực hiện kiểm định thì sinh viên của họ sẽ không được cấp học bổng hoặc các khoản tín dụng học tập.

Giải pháp nào cho Việt Nam?

Kinh nghiệm của các nước phát triển về “vòng xoắn ba” khiến ta không khỏi thắc mắc, phải chăng sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo là vì vòng xoắn hiện còn thiếu một sợi dây thứ ba? Chẳng hạn, nếu như các doanh nghiệp không mặn mà với các trường vì họ không được lợi gì từ mối quan hệ này, thì liệu nhà nước đã có chính sách gì để khuyến khích sự gắn kết này hay chưa? Nhà nước có vai trò gì không khi tuyệt đại đa số giảng viên trong các trường đại học của Việt Nam không say sưa nghiên cứu để sáng tạo ra tri thức mới, khi tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ còn tràn lan trên mọi lãnh vực, hoặc khi bằng cấp thật, chất lượng dỏm dường như ngày càng trầm trọng vì số trường đại học mở ra thì nhiều nhưng chưa có một hệ thống kiểm định hoàn chỉnh? 

Vâng, có lẽ điều cần làm để giải quyết tình trạng hiện nay không phải là tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gắn kết với doanh nghiệp, hoặc kêu gọi các doanh nghiệp hỗ trợ quá trình đào tạo của các trường để chứng tỏ trách nhiệm xã hội, mà là nhanh chóng có được một vài chính sách vĩ mô để tác động vào mối quan hệ này, như chính sách về kiểm định nghề nghiệp chẳng hạn. Nếu không thì  hàng năm, số lượng sinh viên tốt nghiệp xong để tham gia vào lực lượng thất nghiệp không giảm đi mà có lẽ sẽ còn cao hơn nữa, đặc biệt là trước viễn cảnh Cộng đồng Kinh tế Asean vào năm 2015!




giaoducviệtnam

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2013

Bài học cuối tuần: Tìm hiểu về đạo Tin Lành

 "Khi Đức Phật không trả lời"
Bài làm chứng của Mục Sư Tiến Sĩ Paul Yonggi Cho, 
dịch từ quyển "Khi Phật không trả lời" từ Anh Ngữ ra Việt Ngữ.

Đây là câu chuyện thật, tác giả là con trai trong một gia đình sùng kính Phật giáo. Ông bị bịnh lao phổi xuất huyết sắp chết, được Đức Chúa Giê-xu chữa lành và trở thành một nhà truyền giáo nổi danh trên thế giới, về những công việc quyền năng mà Chúa đã làm, qua đời sống chức vụ của ông. Ông hiện là Hội Trưởng giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần (Assemblies of God) Hàn Quốchttp://english.fgtv.com/
Tôi nằm chờ chết trong chiếc lều duy nhất dành cho tôi, phủ bằng tấm chăn tả tơi bẩn thỉu.Thật là một điều dường như hoàn toàn bất công. Tôi đã làm việc khó nhọc để sống lây lất bằng một bửa ăn. Tôi đã phấn đấu vất vả để học hành, để chuẩn bị tạo lập cuộc đời. Tôi đã mơ ước xây dựng một điều gì cho riêng tôi, nhưng bây giờ tôi đang nằm để chờ chết.
Từ thuở bé, tôi đã thờ lạy Phật, nhưng bây giờ Phật chẳng ban cho tôi sự cứu giúp nào cả. Thật ra, tôi không ngạc nhiên, vì trong những năm gia đình theo Phật, chưa bao giờ tôi thấy Phật đáp ứng một lời cầu xin nào.
Gia đình tôi sống ở miền bắc Đại Hàn. Khi chiến tranh bùng nổ, chúng tôi đã mất nhà cửa cùng với những người khác. Chúng tôi lánh nạn xuống Pusan, ở miền Nam. Tiền bạc và thực phẩm vô cùng thiếu thốn. Tôi phải làm việc thật vất vả mới có đủ một bửa ăn mỗi ngày và để tiếp tục học hành.
Một ngày kia, trong lúc đang làm việc, máu bỗng trào ra đầy miệng tôi. Tiếp theo đó, máu cũng chảy ra nơi lỗ mũi. Tôi cố gắng để khỏi bị nghẹt thở cho đến khi ngất xỉu. Khi tỉnh dậy, áo quần tôi dính đầy máu. Tôi không thể gượng dậy được vì quá choáng váng. Tôi cũng không biết tôi đã nằm tại đó bao lâu. Cuối cùng, tôi phải khó nhọc lắm mới đứng dậy được và bước về nhà. Suốt đêm tôi bị lên cơn sốt mê man, lúc mê lúc tỉnh, và mỗi lần ho máu lại trào ra.
Sáng hôm sau, tôi cảm thấy gần chết hơn là sống. Cha mẹ tôi đưa tôi đến một bịnh viện và nhờ một y sĩ khám nghiệm. Ông ta chụp quang tuyến X buồng phổi của tôi, sau đó ông bảo tôi: "Tôi rất buồn, nhưng chúng tôi không thể làm gì cho anh được. Anh không thể sống thêm một tháng nữa."
"Bác sĩ!" Tôi thét lên: "Ông đang nói thật với tôi chứ?"
ANH KHÔNG THỂ SỐNG THÊM MỘT THÁNG NỮA:

Vị y sĩ cho tôi xem tấm phim chụp quang tuyến X và giải thích: "Lá phổi bên phải của anh hoàn toàn bị hủy hoại vì bịnh lao. Phần bên trái đã nát và ung thối. Lá phổi bên trái của anh cũng bị lao. Tình trạng thiếu dinh dưỡng và làm việc cực nhọc đã khiến trái tim anh nở lớn ra, và khiến cho máu không thể lưu thông điều hòa. Không có một loại dược phẩm nào có thể chữa trị những chứng bịnh này, cho nên tôi không còn cách nào khác hơn là nói với anh sự thật!"
Tôi trở về nhà, người choáng váng. Cha tôi an ủi tôi: "Con ạ, không có sinh cũng không có tử, không có vui cũng không có buồn. Chỉ ở trong Phật mới có sự thực hữu. Con hãy quên sự sống sự chết đi để lo tịnh dưỡng." Tôi phản đối: "Máu đang trào ra nơi miệng con là thật. Sự đau đớn mà con đang chịu đựng là thật. Phật và những triết lý của cha không giúp ích gì cho con cả. Con bác bỏ hết."
Một hôm, đang khi nằm trong chiếc lều, sự sợ hãi và tuyệt vọng xâm chiếm tâm tư tôi. Tôi gào lên: "Có Thượng Đế không? Nếu có Đấng nào gọi là Thượng Đế đang ở chỗ nào trong vũ trụ, xin đến và cứu giúp tôi! Tôi muốn được sửa soạn để chết!"
CÓ THƯỢNG ĐẾ TRONG VŨ TRỤ KHÔNG?
Thượng Đế đã nghe lời cầu xin của tôi và Ngài đã trả lời bằng một hình thức mà tôi không nghĩ đến! Một cô gái nhỏ gõ cửa và bước vào, tay ôm quyển Kinh Thánh. Tôi kinh ngạc vì theo văn hóa của Đại Hàn, đàn bà không cấp tiến và đàn ông không thích để đàn bà dạy dỗ. Tôi quyết liệt bảo cô bé rời khỏi căn lều, nhưng cô nói rằng: "Tôi biết ông đang sắp chết, tôi muốn được nói chuyện với ông về Đức Chúa Giê-xu Christ, Cứu Chúa của tôi."
Tôi càng giận dữ và mắng nhiếc cô gái. Tôi bảo cô rằng hàng triệu vi trùng lao đang bay đầy trong không khí và cô sẽ bị lây bịnh. Cô chỉ trả lời: "Đấng Christ của tôi sẽ bảo vệ tôi"; và cô tiếp tục làm chứng cho tôi. Cuối cùng cô rời căn lều và tôi nói: "Nhờ ơn Phật, cô ta đã đi."Sáng hôm sau cô gái trở lại. Lần này cô hát những bài ca và đọc lớn những lời trong Kinh Thánh. Tôi nguyền rủa và gọi cô ta là "một con chó Cơ-đốc", nhưng cô ta không có phản ứng gì cả. Suốt ngày chỉ nói về Đấng Christ.
Vào ngày thứ năm khi cô gái đến, tôi hỏi tại sao cô tiếp tục đến và cầu nguyện cho tôi. Cô bảo tôi: "Có một Đấng thúc dục tôi đến đây và cầu nguyện cho ông."
"Đấng đó là ai? Tôi hỏi cô gái.
"Là Đức Chúa Giê-xu của tôi." Cô gái trả lời và nước mắt bắt đầu chảy dài xuống trên đôi má của cô. Thình lình sự cố chấp của tôi tan biến, tôi cũng bắt đầu khóc và bảo cô gái: "Tôi muốn biết Chúa Giê-xu của cô."
Cô trao cho tôi quyển Kinh Thánh và tôi bắt đầu đọc từ chỗ được cô chỉ dẫn, đoạn thứ nhất của sách Mathiơ. Mấy phút sau tôi kêu lên: "Đoạn này giống như một cuốn điện thoại niên giám, làm thế nào giúp ích tôi được?" Cô bảo tôi cứ tiếp tục đọc và sẽ tìm được một câu chuyện kỳ diệu. Sau khi cầu nguyện thêm một lần nữa, cô gái rời khỏi căn lều.
Tôi đọc tiếp, đinh ninh sẽ gặp những triết lý khó hiểu, giống như triết lý của Phật giáo mà tôi đã đọc. Nhưng tôi khám phá ra: Kinh Thánh là một quyển sách nói về một Đấng gọi là Giê-xu Christ, con của Đức Chúa Trời.
Tôi đọc những chỗ nói về Đức Chúa Giê-xu chữa lành kẻ đau và cứu kẻ chết sống lại. Tôi nghĩ rằng nếu tôi chỉ đến với Chúa Giê-xu thì Ngài sẽ giúp tôi. Nhưng lý trí lại cho rằng tôi không thể đến với Ngài được. Tôi đã xúc phạm và ghét Ngài. Tôi cố gắng tìm một câu Kinh Thánh dẫn chứng rằng Đấng Christ ghét bỏ tội nhân, nhưng hoài công tôi chẳng tìm được một câu nào cả. Trái lại, tôi thấy Ngài đã tha thứ cho người đàn bà tà dâm và giải thoát những kẻ bị quỷ ám. Ngài luôn luôn tiếp nhận kẻ đau ốm và người tội lỗi. Dần dần tôi ý thức được rằng, mặc dù tôi là một người nghèo nhất trong đám người nghèo, một kẻ đầy tội lỗi và sắp chết vì bịnh lao phổi, Đức Chúa Giê-xu sẽ tiếp nhận tôi.
Từ ngày tặng cho tôi quyển Kinh Thánh, cô gái không trở lại. Tôi không biết tên cũng không biết làm thế nào để tìm cô gái. Tôi đang cần một người hướng dẫn tôi để gặp Đức Chúa Giê-xu. Tôi cố gắng bước ra ngoài đường phố và dọ hỏi. Một người chỉ cho tôi một cơ sở truyền giáo, ở đó có một tu sĩ người Hoa Kỳ.

TÔI MUỐN BIẾT ĐỨC CHÚA Giê-xu CỦA CÔ:

Tôi kiệt sức đến nỗi không thể đi được mười bước mà không nghỉ, tôi phải nhờ người đàn ông đó đưa đi đến cơ sở truyền giáo. Khi chúng tôi đến nơi, người ta đang ca hát, gương mặt của mọi người đầy vẽ hân hoan. Vị tu sĩ người Mỹ đứng lên để giảng dạỵ. Tôi ngạc nhiên vì ông không mặc áo dài như những tu sĩ Phật giáo. Ông giảng qua một thông dịch viên, những lời giảng làm tôi cảm động. Khi ông mời những tội nhân bước lên phía trước, tôi là người đầu tiên đến gặp ông. Vị tu sĩ đưa tôi vào văn phòng, giải thích cho tôi biết chương trình cứu rỗi và hướng dẫn tôi cầu nguyện ăn năn tội.
Trong khi tôi cầu nguyện ăn năn tội với Đức Chúa Trời và quyết định tiếp nhận Đức Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của chính tôi, thì một niềm bình an tràn ngập trong tôi. Tôi cảm thấy tất cả tế bào trong thân tôi đều nhận được một sức mới. Có một năng lực đang dâng trào lên trong người tôi và tôi tưởng rằng tôi sắp ói ra máu. Nhưng không phải, tôi nhận ra rằng đó là niềm vui! Tôi muốn hát vang lên, nhưng lại không biết hát như thế nào.
Tôi hỏi vị tu sĩ, đó là ông Louis Richards, một giáo sĩ thuộc giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần: "Đây là sự thực? Tôi đang bị thôi miên phải không?"
Ông trả lời: "Anh không bị thôi miên đâu. Đức Chúa Giê-xu, nguồn nước hàng sống, đang chảy trào vào cuộc đời của anh. Đây là bằng chứng mà anh đang cảm thấy."
Tôi trở về nhà mang theo niềm vui sướng cùng sự bình an. Tôi kể lại cho gia đình nghe những điều đã xảy ra. ở Đại Hàn, người thờ phượng Đức Chúa Giê-xu có nghĩa là chấm dứt thờ cúng vong linh của tổ tiên. Sự kiện này thường dẫn đến sự đoạn giao của gia đình. Chị tôi, người mà tôi kính yêu, đã thuyết phục tôi: "Em yêu mến Giê-xu hơn gia đình sao? Em có thể bỏ hết gia đình vì Ngài sao?" Còn cha tôi thì bảo rằng ông không còn quan tâm đến sự sống chết của tôi nữa, và bảo tôi phải rời khỏi gia đình ngay. Tôi lấy một ít đồ dùng và đi đến nhà ông bác tôi. Gặp tôi ở ngưỡng cửa, bác tôi liền bảo: "Con chó Cơ-đốc bẩn thỉu, mày không được đón tiếp nơi đây đâu. Hãy đi chỗ khác."
Tôi không còn nơi nào khác để đi, nhưng niềm vui sướng và sự bình an vẫn tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi quyết định đi lên núi đặng chờ chết. Lúc bấy giờ một ý nghĩ khác đến với tôi. Tôi phải đến nói vài lời cám ơn cuối cùng với người Mỹ đã hướng dẫn tôi gặp Đức Chúa Giê-xu.
Gặp ông ở ngoài cửa, tôi nói: "Anh Richard, tôi thành thật cám ơn lòng tốt của anh đã hướng dẫn tôi đến với Đấng Christ. Từ khi tiếp nhận Ngài, gia đình đã từ bỏ tôi, cho nên tôi sắp lên núi để chờ chết. Tuy nhiên, tôi muốn anh biết rằng tôi biết ơn anh."
Mục Sư Richard kéo tôi vào trong nhà và đọc Kinh Thánh cho tôi nghe: "Khi cha mẹ từ bỏ tôi, Chúa sẽ đón tiếp tôi." Ông bà Richard dọn một chỗ cho tôi trong căn nhà của họ. Bà Richard nấu những món ăn ngon và chúng tôi cùng ngồi ăn.
Tôi đã khóc trong lúc ngồi ăn và nói rằng: "Anh Richard, tôi không biết rằng anh yêu thương tôi. Anh không liên hệ gì với tôi, sao anh có thể yêu thương tôi như thế này? Ông trả lời: "Bởi vì Đức Chúa Giê-xu cũng đã cứu tôi."
Lương tâm không cho phép tôi ở chung trong nhà của họ mà tạo những tai hại cho họ vì chứng lao phổi của tôi. Cho nên nhờ sự giúp đỡ của Chúa, tôi thuê được một căn phòng nhỏ bên cạnh.
Mục sư Richard tiếp tục dạy Kinh Thánh cho tôi. Ông bảo tôi: "Lời Chúa có quyền năng sáng tạo phi thường. Lời Chúa sẽ chửa lành cho anh." Điều này hầu như quá siêu phàm đối với thực tế, nhưng Mục sư Richard đã chỉ tôi nhiều đoạn Kinh Thánh. Tôi học thuộc những câu Kinh Thánh này và một ngày kia tôi đem ra thí nghiệm.
Tôi khóa cửa phòng và bắt đầu cầu nguyện: "Kính lạy Đức Chúa Giê-xu, con muốn được gặp Ngài, xin cho con biết rõ tương lai của con." Tôi chờ đợi, nhưng Đức Chúa Giê-xu Christ không đến. Sau đó tôi nhắm nghiền mắt lại, hy vọng Ngài có thể hiện ra trong một sự hiện thấy. Nhưng không có một sự hiện thấy nào. Tôi cầu nguyện suốt ngày. Đêm đến ngực tôi đẩm ướt mồ hôi, nhưng tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện. Quá nửa đêm, tôi không còn sức lực và nằm xuống nghỉ.
Thình lình căn phòng sáng rực. Những luồng ánh sáng thoạt đầu tôi tưởng là khói đang cuộn vào. Tôi kinh hoàng, tưởng căn nhà đang bốc cháy. Tôi kêu la, nhưng không có âm thanh nào toát ra.
Tuyệt vọng, tôi ngó chung quanh và thấy hai bàn chân đứng bên cạnh tôi. Tôi nhìn lên cao hơn và thấy một chiếc áo dài trắng. Rồi tôi thấy một gương mặt giống như mặt trời sáng rực, đang phát chiếu những tia sáng. Tôi vẫn không biết Đấng đó là ai, cho đến khi tôi nhận ra chiếc mão bằng gai. Những gai nhọn đâm vào thái dương, đầu Ngài, và những giọt máu đang chảy dài xuống. Lúc bấy giờ tôi nhận biết Ngài là Đức Chúa Giê-xu Christ. Tình yêu của Ngài tràn ngập tâm hồn tôi.
Trước kia những vị thần của tôi là những thần của sợ hãi và tai ương. Tôi thường đến đền thờ của những vị thần này để xin khỏi bị trừng phạt. Nhưng Đức Chúa Giê-xu thì lại khác hẳn. Tôi cảm nhận tình yêu của Ngài và tất cả sợ hãi đều tan biến.
Một niềm hân hoan tuyệt vời phát xuất từ đáy lòng của tôi. Môi và lưỡi tôi bắt đầu nói. Tôi thở ngắn lại và dường như có một Đấng đang điều khiển và bắt phục môi lưỡi tôi. Tôi không biết điều đó là gì, nhưng tôi nhận thật rằng tôi càng nói, càng cảm thấy thoải mái hơn. Cho nên tôi cứ nói và tiếp tục nói.
Khi tôi ý thức ngó lại sự vật chung quanh, Đức Chúa Giê-xu đã biến dạng, nhưng sự vinh hiển vẫn còn tràn vào tâm hồn tôi. Tôi quên hẳn sự đau nhức trong tim, trong phổi tôi và chạy đến cơ sở truyền giáo. Tôi bảo Mục Sư Richard rằng tôi đã thấy Đức Chúa Giê-xu và đã nói một thứ tiếng lạ. Ông mở Kinh Thánh đoạn 2 của sách Công vụ các sứ đồ và giải thích cho tôi biết: tôi đã được báp têm trong Đức Thánh Linh như các môn đồ đầu tiên. Chúng tôi khóc lên vì vui sướng.
Sự từng trải mới mẽ này khiến tôi muốn làm chứng về Chúa. Tôi đi ra ngoài đường phố và nói về Đức Chúa Giê-xu với mọi người đang khi sức khoẻ tôi khả quan hơn. Tôi đã đi từ nhà này sang nhà khác.
Một hôm tôi nhận thức rằng tôi không còn đau đớn trong tim và cũng không còn khó thở nữa. Tôi đi đến bịnh viện, sau khi khám nghiệm và chiếu quang tuyến X, y sĩ bảo tôi buồng phổi của tôi rất tốt, không còn vết tích bịnh lao. Tim của tôi cũng bình thường.
Được sự khuyến khích của các giáo sĩ giáo hội Phúc Âm Ngũ Tuần, tôi ghi danh học thần đạo ở Hán Thành. Thường thì tôi không có tiền. Vào những lúc thời tiết lạnh thì các giáo sĩ cho tôi mượn áo choàng để tôi không bị lạnh. Nhưng tôi có Đức Chúa Trời, có Kinh Thánh và có sự bình an.
Sau đó, tôi bắt đầu rao giảng đạo Chúa trong một căn lều vải rách rưới, trên một khu đất bỏ hoang. Một nhóm tín hữu nghèo khổ nhóm họp tại đó. Tôi kể cho họ những điều mà Đức Chúa Giê-xu đã làm cho tôi, và bảo rằng Ngài sẽ làm những điều đó cho họ. Chẳng bao lâu căn lều đầy người và họ phải đứng ở bên ngoài.
Chúng tôi cần có một chỗ để thờ phượng Chúa lâu dài vì sự phát triển của Hội Thánh, và chúng tôi đã mua được một cơ sở trung tâm ở Hán Thành. Cuộc phấn hưng tiếp tục. Chẳng bao lâu hàng trăm giáo hữu nhóm chật thánh đường. Chúng tôi phải nới rộng phòng họp và phải tổ chức hai thánh lễ mỗi buổi sáng Chúa Nhật, rồi ba lễ, bốn lễ. Ngôi thánh đường mới của chúng tôi có 10.000 chỗ ngồi đã được hoàn tất. Trong năm vừa qua có 1.000 tín hữu mới thêm vào Hội Thánh.
Hội Thánh chúng tôi tăng trưởng bởi vì chúng tôi giảng về Đức Chúa Jesus Christ hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi. Ngài tiếp nhận tôi khi tôi sắp chết, cứu tôi, chữa lành cho tôi và báp têm trong Đức Thánh Linh cho tôi. Đó là những điều mà nhân loại hiện đang khao khát. Triết lý và tôn giáo không đáp ứng được nhu cầu của nhân loại. Thế giới cần sự hiện diện của Đức Chúa Jesus Christ.

Đại Lộc, Quảng Nam,vừa xảy ra hai vụ chết đuối trong lũ do xả đập

Thêm 2 cái chết thương tâm do lũ

Chiều 4/10, tin từ ban chỉ huy phòng chống lụt bão huyện Đại Lộc, Quảng Nam, cho biết trên địa bàn huyện Đại Lộc vừa xảy ra hai vụ chết đuối trong lũ.

Vào khoảng 10g ngày 4/10, anh Lê Đức Khanh và anh Nguyễn Văn Sĩ (cả hai đều trú tại thôn Thanh Vân, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc) chèo ghe qua sông Quảng Huế để cắt cỏ cho bò, vừa ra khỏi bờ khoảng 100 mét thì gặp dòng nước chảy xiết làm lật ghe, nhấn chìm cả hai người.
Lúc chống chọi với dòng lũ dữ, anh Lê Đức Khanh vẫn còn chút bình tĩnh, cởi áo mưa khỏi người và ngoi lên mặt nước kêu cứu. May mắn lúc này có 2 thuyền máy đang đánh cá trên sông đến ứng cứu kịp thời và đưa được được anh Khanh lên bờ trong tình trạng đuối sức.
Còn anh Sĩ bị nước cuốn trôi một khoảng cách khá xa nên không thể cứu được.
Nhiều người dân đứng trên cầu Quảng Huế, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc đứng xem lực lượng chức năng tìm kiếm thi thể của anh Sĩ - Ảnh: Lê Trung
Ngay sau khi xảy ra vụ chết đuối, chính quyền địa phương đã huy động các loại phương tiện ghe, thuyền để tìm vớt anh Nguyễn Văn Sĩ. Đến 16g cùng ngày vẫn chưa tìm thấy xác nạn nhân. Được biết, điều kiện gia đình anh Sĩ hết sức khó khăn, anh mất đi để lại người cha già bệnh tật, người vợ và 3 đứa con còn nhỏ dại, đứa lớn nhất học lớp 7, đứa nhỏ nhất 20 tháng tuổi cũng thường hay đau ốm. Người dân xã Đại Cường đã đặt thùng quyên góp tại cầu Quảng Huế, nhằm giúp đỡ kịp thời cho gia đình nạn nhân.
* Trước đó, lúc 11g30 trưa ngày 4/10, người dân thôn Phú Mỹ, xã Đại Minh, huyện Đại Lộc đã phát hiện một xác chết do lũ cuốn trôi tại bàu Phú Mỹ, xã Đại Minh. Nạn nhân được xác định là anh Ngô Văn Phương (thôn Phú Mỹ, xã Đại Minh).
Ông Ngô Sự, cha anh Phương, cho biết: “Tối 2/10, anh Phương xin cha mẹ đi mua đồ dùng trong khi trời có mưa nước lũ đang dâng cao. Sau đó, gia đình không thấy anh Phương trở về. Sáng hôm sau gia đình đi tìm nhiều nơi vẫn không thấy. Chính quyền địa phương cùng gia đình tổ chức tìm kiếm nạn nhân và đến trưa 4/10, thì phát hiện thi thể anh Phương tại bàu Phú Mỹ, cách nhà anh không quá 300m.
Nhiều ngôi nhà dân ở thôn Tân An, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc ngập sâu trong nước lũ - Ảnh: Lê Trung

Cũng trong chiều 4/10, ông Phan Đức Tính, phó chủ tịch UBDN huyện Đại Lộc cho biết: Khoảng 2g sáng 4/10, nước lũ tiếp tục dâng cao. Sáng 4/10, Ban quản lý dự án nhà máy thủy điện Đăk Mi 4 đã có thông báo hồ chức thủy điện Đăk Mi 4A hiện đang xả về hạ du sông Vu Gia với lưu lượng 339 m3/s khiến mực nước sông Vu Gia tại Ái Nghĩa tiếp tục lên cao. Được biết, lúc 7g sáng 4/10, thời tiết khu vực hồ chứa thủy điện Đăk Mi 4 có mưa rất to với lưu lượng nước đến hồ 554 m3/s
Do thủy điện tiếp tục xả lũ, vùng hạ du sông Vu Gia tiếp tục bị ngập nặng. Các xã Đại Quang, Đại Lãnh, Đại Hưng của huyện Đại Lộc vẫn còn chìm trong nước lũ. Đoạn qua cầu Ba Khe (xã Đại Lãnh) bị nước lũ chia cắt gần 1km, người dân phải dùng phà để chở người và xe cộ qua lại.
Được biết, mỗi hành khách và một chiếc xe máy được chủ phà lấy với giá 40.000 đồng. Nhiều ngôi nhà của hàng chục hộ dân thôn Tân An, xã Đại Lãnh, khu vực ven sông Vu Gia bị ngập sâu trong lũ, có nhà ngập cao 2-3m.
Nhiều ngôi nhà dân ở thôn Tân An, xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc ngập sâu trong nước lũ - Ảnh: Lê Trung

Ngồi trên chiếc ghe, nhìn vào ngôi nhà của mình ngập sâu trong nước lũ, chỉ còn lại cái nóc nhà, chị Trần Thị Hữu (52 tuổi), thôn Tân An, nghẹn ngào: “Nhà tôi chỉ còn cái nóc, tất cả đồ đạc, vật dụng đã trôi theo dòng nước lũ. Trưa 2/10, chính quyền địa phương có thông báo trên loa phát thanh là thủy điện xả lũ. Vợ chồng tôi đi làm, lúc về thì thấy nước lên nhanh, hai vợ chồng cùng con cái chỉ kịp dọn mấy đồ đạc lên ghe mà chạy qua nhà khác tránh lũ. Những thứ còn lại trôi theo dòng nước hết”.
Nhiều hộ dân tại thôn Tân An cũng chịu chung cảnh với nhà chị Hữu.



Lê Trung
Nguồn: AloBacsi.vn