Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

Đạo đức của học sinh ngày càng đi xuống?

Đạo đức của học sinh ngày càng đi xuống?
Sáng 25/11, Bộ GD - ĐT đã tổ chức Hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực trong học sinh phổ thông. TS. Phùng Khắc Bình, Vụ trưởng Vụ Công tác HSSV (Bộ GD - ĐT) đã đưa ra những biểu hiện đáng lo ngại về đạo đức, lối sống trong một bộ phận HS phổ thông hiện nay.

"Lệch hướng" khi trưởng thành

Số liệu từ một cuộc khảo sát trong 500 HS THCS ở quận 6, TP.HCM cho thấy có 32,2% HS có thái độ vô lễ với thầy, cô giáo; nhiều HS chỉ chào thầy cô khi ở trong trường, còn ra đường thì coi như không quen biết; 38% HS thường xuyên nói tục.

Theo báo cáo của 38 Sở GD-ĐT, từ năm 2003 đến nay, có hơn 8.000 HS tham gia đánh nhau, bị các trường xử lý kỷ luật.

Với 1.043 phiếu hỏi ở 7 trường ĐH, CĐ, THPT, THCS trên địa bàn Hà Nội xoay quanh vấn đề về kỹ năng sống, thì có 95% nhận thức không đầy đủ về kỹ năng sống; 77,7% chưa bao giờ được học kỹ năng sống; 76,4% rất cần được học kỹ năng sống, rất lúng túng khi xử lý các tình huống. (Bà Đỗ Thị Hải - Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội)

Bà Lê Nguyên Hương, Phó Hiệu trưởng Trường THPT chuyên Nguyễn Huệ (Hà Nội) đã dẫn kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam.

Cụ thể, tỷ lệ HS đi học muộn ở tiểu học là 20%, THCS 21%, THPT 58%.

Cũng theo khảo sát này, tỷ lệ quay cóp ở tiểu học là 8%, ở THCS là 55%, ở cấp THPT là 60%.

Tỷ lệ nói dối cha mẹ càng lên bậc học cao, tương ứng với 22% - 50% - 64%...

Năm 2004, chỉ có 600 HS, SV nghiện ma túy thì đến năm 2007, con số này đã tăng lên 1.234 HS, SV.

Từ đó, bà Hương nhận định, càng lớn, ý thức đạo đức của HS càng đi xuống và sự gia tăng đột biến của tệ nạn ma túy học đường ngày càng trở thành vấn đề nhức nhối.

Những lệch lạc trên, theo bà Đỗ Thị Hải, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội là do lứa tuổi 10-19 (HS THCS và THPT) hay gặp những khó khăn không tự mình giải quyết được.

Ở lứa tuổi này, trẻ đang phải tiếp nhận rất nhiều những tác động cả tích cực và tiêu cực từ phía gia đình, nhà trường và xã hội. Chẳng hạn như: internet (web đen), nghiện chat; gia đình không hạnh phúc, ly hôn, bạo lực gia đình và hiện tượng "thương mại hóa" giáo dục,...

Quan tâm "dạy chữ" - lơ là "dạy người"

Nhiều ý kiến tại hội thảo cho rằng, các nhà trường hiện nay chủ yếu quan tâm đến việc dạy chữ mà lơ là đến việc dạy kỹ năng sống, dạy cách làm người cho HS.

Từ thực tế, bà Lê Nguyên Hương cho biết, chương trình giáo dục đạo đức được xuyên suốt từ bé đến lớn.

Cụ thể, ở bậc mầm non là Giáo dục lễ giáo, tiểu học là môn Đạo đức, trung học là môn Giáo dục công dân, nhưng chương trình SGK quá ôm đồm, nặng về lý thuyết, thiếu kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn để hình thành nhân cách HS.

Mặt khác, chương trình học quá dày nên không có thời gian tổ chức giáo dục kỹ năng sống. Một tuần chỉ có 1 tiết chào cờ đầu tuần và buổi sinh hoạt lớp thứ 7, với 45 phút nhưng rất nhiều việc phải giải quyết, bà Hương nói.

Ông Mai Sỹ Nhật, Trưởng phòng công tác chính trị HSSV (Sở GD-ĐT Hà Nội) cũng nói thêm: 1 tháng học chỉ có 4 tiết sinh hoạt ngoài giờ, lại chưa được đầu tư thỏa đáng, định hướng không rõ ràng nên hiệu quả không cao.
Bộ GD-ĐT chịu trách nhiệm lớn nhất
Bà Đỗ Thị Hải đề xuất, Bộ GD-ĐT cần xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng sống cho từng cấp học, đào tạo đội ngũ giáo viên và đưa vào giảng dạy như một môn học chính khóa, bắt buộc.

Bà Hương thì kiến nghị đưa nội dung giáo dục đạo đức một cách cụ thể hơn. Ví dụ, thế nào là một người tốt, đi xe buýt nhường chỗ cho người già, phụ nữ có thai, con nhỏ,...

Quan trọng nữa là Thành Đoàn nên tổ chức các hoạt động ngoại khóa để hướng các em vào sinh hoạt, không sa đà với các tệ nạn xã hội.

Đồng thời, lồng ghép việc dạy kỹ năng sống vào các trường sư phạm để sinh viên tốt nghiệp ra trường có đủ trình độ dạy cho HS, bà Hương nói.

Theo Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển, Đoàn Thanh niên và Bộ GD-ĐT chịu trách nhiệm lớn nhất trước xã hội về đạo đức lối sống của HS.

Tới đây, khi lấy ý kiến xây dựng chương trình SGK mới, Bộ sẽ chú trọng tới việc làm thế nào để giáo dục đạo đức, lối sống cho HS hiệu quả hơn, từ mầm non đến phổ thông.

Trước mắt, Bộ sẽ lấy ý kiến đánh giá về nội dung chương trình môn Giáo dục công dân, có đề xuất về đội ngũ giáo viên môn học này. Mặt khác, Bộ cũng đang xây dựng một tài liệu hướng dẫn tích hợp giáo dục kỹ năng sống trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành.
Từ internet

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Đắc nhân tâm " bài học cuối tuần "


Cái bẫy chuột

Một con chuột nhìn qua vết nứt của vách tường và trông thấy một bác nông dân cùng với vợ đang mở một chiếc hộp. “Hẳn là có đồ ăn gì trong hộp?” - con chuột tự hỏi.

Nhưng liền sau đó, nó hốt hoảng khi phát hiện ra đó lại là cái bẫy chuột.
Chuột ta bèn chạy ra ngoài vườn và la làng la xóm: “Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”
Chị Gà cục ta cục tác chạy tới: “Chú Chuột này, đây quả thật là mối lo ngại ghê gớm đối với chú, nhưng nó chẳng phiền hà gì tới tôi. Tôi không thể nào bị vướng một cái bẫy chuột”.
Chuột quay sang nói với anh Heo với vẻ lo lắng: “Anh ơi, trong nhà ta có một cái bẫy chuột”. Anh Heo tỏ ra thông cảm: “Tôi rất lấy làm tiếc, cậu em ạ! Tôi chẳng thể làm gì được, nhưng tôi sẽ cầu nguyện cho chú”.
Chuột chạy tới bác Bò tỉ tê. Bác bò một lần nữa trấn an: “Tôi rất hiểu cậu, nhưng tôi cũng chẳng thể giúp gì”. Chuột lẳng lặng bỏ vào nhà. Lòng buổn thỉu buồn thiu, một mình nhìn cái bẫy chuột tàn nhẫn của bác nông dân.
Thế rồi đêm nọ, một tiếng động vang lên trong ngôi nhà, hệt như tiếng sập bẫy. Vợ của bác nông dân vội chạy tới để xem có bắt được con chuột nào không. Trong đêm tối, loạng cha loạng choạng, bà đã bị một con rắn độc cắn khi bà mon men tới cái bẫy vốn đang sập vào đuôi con rắn.
Bác nông dân nhanh chóng đưa vợ vào trạm xá. Khi về nhà, bà đã bị sốt. Mọi người đều biết rằng ăn cháo có thể làm giảm cơn sốt; vì thế bác nông dân đã chạy ra vườn bắt chị Gà mần thịt để làm cháo nấu cho vợ.
Thế nhưng bệnh tình của vợ ông vẫn không thuyên giảm. Bạn bè và xóm giềng đã tới thăm hỏi. Để thết đãi họ, ông đã mần thịt anh Heo.
Sau nhiều ngày chống chọi với cơn bệnh, vợ ông đã qua đời. Nhiều người đến lễ tang và vì thế bác nông dân đã mổ thịt bác Bò để có đủ thức ăn đãi khách, những người đã rất quan tâm tới gia đình ông.
Lần sau, một khi bạn nghe thấy ai đó đang gặp khó khăn dù chuyện đó chẳng “ăn nhập” gì tới bạn, hãy nhớ rằng khi một người trong chúng ta gặp nguy khốn, nghĩa là tất cả chúng ta đều có nguy cơ gặp nguy khốn. Tất cả chúng ta đều đồng hành trên chuyến hành trình mang tên Cuộc Đời. Hãy để mắt tới mọi người và luôn động viên và cùng họ vượt qua cơn khốn khó
 Sưu Tầm

Người ngoại quốc tới Hội An từ thế kỷ 17 đến 19

Người ngoại quốc tới Hội An từ thế kỷ 17 đến 19



   Hội An thật sự được thành lập vào sơ niên thế kỷ XVII. Ngay từ những năm đầu, nó đã trực thuộc vào dinh trấn Thanh Chiêm ở cách đó chừng 10 cây số. Trấn này gọi là Quảng Nam, trước kia gồm các phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn; về sau, kết hợp phủ Điện Bàn thành ra bốn phủ. Vị đứng đầu dinh trấn trong nhiều năm, bao giờ cũng là các con Chúa và sau đều trở thành nguyên thủ tức là Chúa Nguyễn như Nguyễn Phước Nguyên, Phước Lan, Phước Tần... Do lẽ trấn quan trọng, giàu có (hồi đó rất nhiều vàng trên mặt đất, rừng có nhiều trầm hương quế, thú lạ) nên được thiên hạ ở tứ xứ đổ về buôn bán: Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Anh, Pháp... Khách đến, ngoài việc mậu   dịch còn có nhiều người chuyên về tôn giáo, du lịch, lánh nạn, mở đường thông thương...
    Hội An được ưa chuộng còn vì một lẽ khá mới lạ đối với thời ấy nay còn được nhiều quốc gia ở Đông và Đông Nam Á tiếp diễn: Chúa Nguyễn xem nó như một đặc khu kinh tế, đặc khu thương mãi. Việc tổ chức ngoại kiều dành cho chính các người đứng đầu nhóm thương nhân theo qui hoạch được Chúa qui định. Do đó, chúng ta thấy phố người Hoa đều lấy trưởng phố là ngoại kiều. Giai đoạn này có mấy sự việc lớn của xã hội Nhật Bản và Trung Quốc ảnh hưởng sâu rộng đến các giới người Hoa và Nhật Bản. Người Nhật thì bị Mạc phủ cấm đạo Thiên Chúa phải lánh sang Hội An, Đà Nẵng hành đạo. Người Hoa vì tổ quốc bị quân Mãn Thanh chiếm cứ, những người yêu nhà Minh, tổ chức công cuộc "Phản Thanh phục Minh" phải vượt biển để tiếp tục kháng chiến hoặc để làm dân nhà Minh, phụng thờ nhà Minh.
    Người Nhật làm ăn phồn thịnh. Có nhiều nhân vật tiếng tăm của các đại tộc Chaya, Sotarô... tới lui và xây dựng sự nghiệp. Một người trong họ Sotarô đã cưới một công nữ của Chúa Nguyễn về sau đưa về Nhật trước khi chính quyền ra lệnh cấm tuyệt người Nhật xuất ngoại, sợ mang theo đạo Thiên Chúa về. Nhiều khách thương Nhật có vợ Việt cũng đưa vợ về ở Nhật, có lẽ tiêu biểu nhất là Ngụy Cửu Sử và Võ Thị Nghị.
    Người Hoa thì thượng vàng hạ cám đều từng bước lấn chiếm Hội An, nhất là sau thập niên 30 thế kỷ XVII khi người Nhật rút lui. Ta có thể đoán từ thời quân Thanh đánh xuống Hoa Nam, có rất nhiều nhân vật tiếng tăm đã chạy ra ngoài và một số đáng kể theo Trịnh Thành Công khi viên tướng này đuổi người Hòa Lan và lập căn cứ địa ở Đài Loan. Cuộc kháng chiến kiên trì đòi hỏi quân nhu, quân dụng, cả lương thực nên tất nhiên Hội An có cơ hội phát đạt. Trong những người theo họ Trịnh ở Đài Loan về sau chỉ còn thấy lưu lại một người, có tên là Lưu Thanh. Ông này cũng là thương gia lớn. Về sau, ông có nhờ Sư Thích Đại Sán xin với Chúa Nguyễn chức cai phủ quản lý hàng hóa ngoại quốc thu thuế hàng hóa nhập xuất Hội An nhưng bất thành.
    Còn một nhân vật khác là Châu Thuấn Thủy cũng đến Hội An nhân dịp này. Ông thuộc môn phái Vương Dương Minh, chủ trương Tri Hành Hợp Nhất rất nổi tiếng. Ông cũng thuộc "Phản Thanh phục Minh" nhưng ở địa vị cao (cao tới đâu không ai biết được) và lẫn tránh ở Hội An để thực hiện các chủ trương bí mật. Ông muốn đóng góp vào việc giảng dạy nho giáo mới theo môn phái ông, nhưng ít được trí thức ta hâm mộ. Về sau, các thương gia Nhật biết ông có đại tài liền tìm cách đưa ông về Nhật. Mạc phủ rất trọng dụng, xem ông   như quốc sư. Ông có viết rất nhiều sách để truyền vương học cho người Nhật, đến nay môn phái ấy vẫn còn với tên Nhật là Yômeiganu. Trong các tác phẩm của ông có tập "Annam cung dịch kỷ sự." Chúng ta đọc qua tập này có thể biết thêm về xã hội Việt Nam và cả Hội An đầu thế kỷ XVII.
    Lừng lẫy nhất là năm 1695 khi nhà sư Thích Đại Sán sang   "Quảng Nam quốc" để nhận một vị Chúa Nguyễn -- Nguyễn Phước Châu -- làm đệ tử. Nhân công cuộc hành đạo, Đại Sán đã kết hợp với việc thương mãi lớn lao như chưa từng thấy và ông đã giàu có nay càng thêm giàu có lớn khiến trăm   mắt cũng nhìn vào: kẻ bợ đỡ, người ganh ghét. Người ta gán cho ông hai chữ "yêu tăng" vì hành vi kỳ quái của một bậc đại sư tài trí và có trình độ văn học đáng kể. Ông có viết sách "Hải ngoại kỷ sự" nổi tiếng được dịch và ấn hành năm 1965. Sách có giá trị sử liệu tốt. Cũng rất tốt là phần phụ lục của giáo sư Trần Kinh Hòa, cho biết rất nhiều chi tiết quái lạ về một cuộc đời và hành vi của nhà sư trong đó tất nhiên không thiếu công việc ông đã giúp Chúa Nguyễn cũng như đã thu thập quá nhiều lợi tức trong chuyến buôn không thuế năm 1895 và sẽ còn tiếp tục bởi các đồ đệ về sau. Để rồi cuối cuộc buôn bán với phủ chúa đã khiến ông kết thúc cuộc đời bi thảm: bị chính quyền đuổi ra khỏi Quảng Đông rồi Giang Tây hai lần vào năm 1702 và 1704. Lần sau chết trên đường lưu đày.
    Sách "Hải ngoại kỷ sự" cung cấp nhiều tư liệu -- trong đó có Hội An -- về nhiều phương diện của xã hội xứ Đàng Trong và thú vị không kém là cuộc đời Đại Sán mà câu đánh giá này rất đáng suy nghĩ: "Khá khen mà cũng khá chê nhiều, nhưng chúng ta cũng nhận thấy ông ta có một nhân cách phóng đãng không bó buộc" (*).
    Cũng cần nói thêm, cho tới nay, biết và viết về Hội An, dù   người Âu Mỹ hay Việt, không ai so được với giáo sư Trần Kinh Hòa mà chúng ta hân hạnh được xem ông như vị khách bậc nhất về Sử học của Hội An đã từng đi qua Hội An vào đầu thế kỷ XX. (Ngoài những sách đã được dịch ra tiếng Việt còn các tư liệu quan trọng khác chưa công bố ở Việt Nam).
    Người ngoại quốc Âu, Mỹ đến Hội An cũng rất nhiều, nhất là các giáo sĩ vào đầu thế kỷ XVII, nổi tiếng như Buzomi, A de Rhodes... Các ông này đều ít nhiều có đóng góp vào việc tạo ra chữ quốc ngữ hay ngôn ngữ Việt Nam. Sự tích các ông, nhất là Rhodes chúng ta đã biết. Nổi tiếng nhất là Pierre Poivre người Pháp (nửa sau thế kỷ XVII). Ông này là một nhà học giả, triết gia, thương gia vào hạng cừ khôi. Ông lưu lại một xì căng đan (tai tiếng) cực lớn trong lịch sử bang giao Pháp - Việt, do sự tham nhũng của các quan thâu thuế và cả sự tham lam khủng khiếp của Hoàng gia và cả của Chúa.
    Về người Việt thì ngoài các nhân vật nổi tiếng của phe chúa Nguyễn tới lui gần suốt cả hai thế kỷ, còn một phe Hội An nổi lên rực rỡ như chưa bao giờ xảy ra. Ấy là cuối thế kỷ XVIII khi Tây Sơn nổi dậy phá dinh trấn Thanh Chiêm rồi quân Trịnh vào phá phủ Chúa Phú Xuân, Chúa Nguyễn phải   chạy vào Quảng Nam. Trấn lỵ bấy giờ đặt ở Hội An. Anh em Nguyễn Nhạc bắt được Hoàng Tôn Dương đưa về Hội An để chuẩn bị lập Chúa thay Nguyễn Phúc Thuần bị Trương Phúc Loan chèn ép. Quân Trịnh vào đánh nhau với Tây Sơn ở Cẩm Sa rồi kéo về đuổi Nhạc ra khỏi Hội An, nơi được xem như kinh đô lâm thời của họ Nguyễn dưới ảnh hưởng Tây Sơn.
    Cũng từng đến Hội An là những tướng tá tiến sĩ phe chúa Trịnh ở Đàng Ngoài do một vị tiến sĩ danh vọng là Xuân quận công Nguyễn Nghiễm cầm đầu. (Nguyễn Nghiễm là cha thi hào Nguyễn Du), tên tuổi các vị nầy còn uy nghiêm đề trên một bài thơ dài (do Nguyễn Nghiễm sáng tác) được khắc trên một bức hoành lớn treo trước chùa Quan Công - Hội An.
    Tuy sử không ghi, nhưng chắc chắn Hoàng tử Cảnh đã vào Hội An khi đưa quân về đánh Quảng Nam. Vì tại đó phải lập chỗ hành tại thay cho dinh trấn Thanh Chiêm. Ông về thăm quê mẹ, nơi sau này có đền thờ và được mệnh danh "Đền thờ bà mẹ Gia Long." Ông có mang về hài cốt (chắc của vợ chồng Tống Phước Khuông) và chôn gần đền thờ ở làng An Quán. Nay đền bị lở xuống sông, cả hai ngôi mộ cũng biến mất.
    Sau khi Gia Long lên ngôi, tiếp tục có nhiều thương khách   hoàng gia đến Hội An. Nổi tiếng nhất là sự kiện Minh Mạng ngự giá Hội An vào thập niên 20 thế kỷ XIX. Nhà vua có cho đền thờ Quan Công ba trăm lạng bạc để sửa chữa do bị chiến tranh làm sụp đổ. Các thương gia Trung Hoa, Minh Hương có tổ chức hát bội để vua Ngự Lãm. Không rõ hát bội Ta hay Tàu (tuồng Tiều). Có lẽ của ta vì vào thời ấy, hát tuồng ta đã khá thịnh và có nhiều đào kép nổi tiếng.

                                                                                                                     Nguyễn Văn Xuân   

    (*) Về Đại Sán (Hải ngoại kỷ sự) xin xem trong bài Khảo cứu ở cuốn sách của giáo sư Trần Kinh Hòa: Sư Đại Sán, nhân phẩm và việc làm. Sư Đại Sán du hành đến Quảng Nam, từ trang 244 đến 275.



Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Lễ tạ ơn




Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi và khí trời càng trở lạnh cũng là lúc cả đất nước Hoa Kỳ đang chuẩn bị bước vào những ngày lễ trọng đại và thiêng liêng. Một trong những ngày lễ quan trọng đó là Lễ Tạ Ơn .

Lễ Tạ Ơn như đem những người sống trên đất nước Hoa Kỳ trở về với những ngày đầu của tổ tiên họ…Vào ngày 6 tháng 9, 1620, có 102 người, vừa đàn ông, đàn bà, trẻ con cùng một số vật dụng bước lên con tàu Mayflower rời Anh Quốc, vượt đại dương để tiến về Tân-thế-giới. Họ ra đi và mang trong lòng một nỗi khao khát: tìm tự do tôn giáo (seeking religious freedom). Họ được gọi bằng tên mới “Những người hành hương” (Pilgrims). Một vài nhà sử học coi đây là Lễ Tạ Ơn đầu tiên mặc dầu không có tiệc tùng, ăn uống, vui chơi…
  Mùa đông đầu tiên quá lạnh, thật vô cùng khắc nghiệt, đến với họ. Thực phẩm lại thiếu thốn trầm trọng. Tháng 12 năm ấy có sáu người qua đời, qua tháng Giêng có tám người, tháng Hai tăng lên 17 người, và 13 người qua đời trong tháng Ba. Những người này đã âm thầm chôn cất những thi hài trong đêm tối vì sợ Thổ Dân (Native Indians) biết được có thể tấn công họ chăng! May mắn thay, không có một xung đột nào đáng kể giữa Người Da Đỏ và Người Hành Hương như họ dự đoán. Trái lại Thổ Dân rất thân thiện và tận tình giúp đỡ những Người Hành Hương trong cuộc sống mới về việc dạy cách trồng tỉa, săn bắn, nấu nướng các thứ hoa quả lạ…

  Tháng Tư họ cùng nhau trồng bắp dưới sự chỉ dẫn của một Người Da Đỏ tên là Squanto. Những luống bắp nầy quyết định sự sống còn của họ trong mùa Đông sắp tới. Họ vui mừng vì mùa Xuân và mùa Hè năm 1621 thật quá tuyệt đẹp! Bắp lên tươi tốt hứa hẹn một vụ mùa no nê như lòng họ mơ ước. Mùa Đông lại về, nhưng bây giờ không còn là một đe dọa nữa. Mùa màng đã gặt hái xong, họ có dư thực phẩm để sống qua những ngày đông giá rét. Cũng không còn sợ lạnh vì đã làm được 11 cái nhà vững chắc đủ chỗ để quây quần sum họp. Họ quyết định tổ chức một Hội Ngày Mùa (Harvest Festival) để tạ ơn Thượng Đế cho họ sống sót qua mùa đông đầu tiên. Đó là lễ Tạ Ơn đầu tiên trên đất Mỹ. Ngày tháng chính thức của "First Thanksgiving" nầy không được chép lại, chỉ biết đầu tháng 11 năm 1621.

Thực phẩm chính trong Lễ Tạ Ơn nầy gồm: Bắp, bí đỏ, chim, vịt, ngỗng và gà tây. Họ cũng mời khách là các Thổ Dân. Tù trưởng Massasoit dẫn 90 dũng sĩ đến dự "party" và cũng đem biếu Thống Đốc của nhóm Người Hành Hương lúc bấy giờ là Bradford năm con nai nhân ngày Lễ Tạ Ơn đó. Họ ăn uống vui chơi suốt một tuần lễ.

  Lịch sử ngày Lễ Tạ Ơn của người Mỹ cũng thăng trầm, trôi nổi theo vận nước của họ. Các tiểu bang thuộc địa đầu tiên không thống nhất được ý kiến chung về một ngày Lễ Tạ Ơn. Họ giữ ngày lễ tùy ý mà họ cho là thích hợp. Khi cuộc cách mạng giành độc lập từ tay Người Anh thành công họ mới nghĩ đến một Lễ Tạ Ơn chung cho 13 tiểu bang. Tổng Thống đầu tiên của nước Mỹ, George Washington, kêu gọi dân chúng giữ ngày thứ năm 26 tháng 11 năm 1789 làm ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên cho toàn quốc (First National Thanksgiving). Nhưng sau đó lễ tạ ơn cũng không được mọi người công nhận theo một ngày tháng nhất định. Dầu vậy, càng ngày càng có nhiều người đưa ra ý kiến nên có một ngày nhất định, đưa lễ Tạ Ơn thành quốc lễ (National Holiday) và đưa quyền quyết định cho chính phủ Liên-Bang.

  Một trong những người có công trong việc thúc đẩy việc thành hình ngày Lễ Tạ Ơn là bà Sarah Josepha Hale. Vào năm 1837 bà Sarah trở thành chủ bút của một tạp chí phụ nữ nổi tiếng có tên "Godey's Lady's Book". Bà đã viết hàng trăm lá thư gởi đến các nghị sĩ Quốc Hội và những người có thế lực lúc bấy giờ hầu vận động đưa ngày Thanksgiving vào quốc lễ. Trong thời kỳ nội chiến (Civil War) năm 1861, bà viết một tâm thư kêu gọi hai phe buông súng một ngày để giữ Lễ Tạ Ơn, nhưng không phe nào chịu nghe cả. Bà thất vọng!

  Mãi đến năm 1863, Tổng thống Abraham Lincoln nhận thấy chiến tranh đã đến hồi kết thúc nên chỉ định ngày thứ năm cuối cùng của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc. Chẳng may ông bị ám sát, Andrew Johnson lên làm Tổng Thống, tiếp tục truyền thống cũ, nhưng đổi lại ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm Lễ Tạ Ơn. Rồi trong khoảng thời gian từ năm 1939 đến 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt chỉ định ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba trong tháng 11 làm lễ Tạ Ơn thay vì thứ năm trong của tuần lễ thứ 4. Nhưng lần nầy Roosevelt bị các thương gia và các đảng viên Đảng Cộng Hòa chống đối dữ dội, cho rằng Tổng Thống đã đi ngược lại truyền thống cũ. Hai năm sau Tổng Thống Roosevelt rút lại quyết định và đặt ngày thứ năm tuần lễ thứ 4 của tháng 11 làm ngày Lễ Tạ Ơn cho toàn quốc mãi cho đến ngày hôm nay.

  Lễ Tạ Ơn là dịp để chúng ta đếm các ơn lành Trời ban. Nhìn lại những ngày tháng tại quê nhà, cuộc hành trình tị nạn đầy gian nan vừa qua và những thành quả mà Người Mỹ Gốc Việt đạt được ngày hôm nay để chúng ta dâng lên Thượng Đế lời Tạ Ơn sâu xa nhất. Tạ ơn Trời vì Ngài đã ban cho ta sự sống, hơi thở, sức khoẻ và bao nhiêu là ân huệ. Chúng ta cũng nên cảm ơn nhau. Cảm ơn thân quyến, bạn bè, những người thân quen và ngay cả những người chưa từng biết về sự chan hòa của họ trong cuộc sốngcủa mỗi chúng ta trong cộng đồng nhân loại. 



Kính chúc mọi người, mọi nhà một kỳ Lễ Tạ Ơn tràn đầy ý nghĩa!

Mục sư Tiến sĩ Christian Phan Phước Lành

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Dân Hội An: Tri ân Thầy Cô

Dân Hội An: Tri ân Thầy Cô

Tri ân Thầy Cô


GỞI LỜI TRI ÂN ĐẾN THẦY CÔ
20 - 11


“Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác.”Usinxki


“Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế.” Philoxêne De Cythêrê

Gởi đến Thầy Cô lời chúc thân thương nhất !

Mãi mãi bên con tiếng của Thầy vang vọng.
Đã xa" rồi mà con ngỡ hôm qua.
Bài giảng của thầy như chắp cánh ước mơ,
Cho con bay khỏi vùng trời cổ tích.
Có những lúc thầm lặng con ngắm,
Vầng trán thầy đọng lại những nếp nhăn...
Tuổi thơ con như những ánh trăng rằm,
Sao thấy được nổi lòng thầy cùng năm tháng.
Đã qua rồi một thời và con đã lớn.
Bài học đầu đời con hiểu được thầy cô.
Lời giải đáp cho con không còn là ẩn số
Mà cả tấm lòng thầy quảng đại bao la.
Ở nơi xa theo hương bay của gió,
Con gởi lòng mình tôn kính đến thầy yêu"

*Chân thành tri ân quý Thầy Cô nói chung và trường PTCS  NGUYỄN DUY HIỆU, trường PTTH TRẦN QUÝ CÁP - HỘI AN, Luôn dồi dào sức khoẻ, hạnh phúc để tiếp tục dìu dắt nhiều thế hệ học trò đến với những bến bờ tri thức!

( học trò khóa 97 lớp 12G Trần Quý Cáp Hội An )

Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Xin đầu hàng


"Chúng tôi chịu hết nỗi rồi, xin đầu hàng"

Vào lúc 14 giờ 24 chiều nay, theo trung tâm báo tin động đất và cảnh báo sóng thần- Viện Vật lý địa cầu xác định, trận động đất xảy ra trong khu vực huyện Bác Trà My (tỉnh Quảng Nam)  mạnh 4.7 độ Richter, có tọa độ 15,35 độ vĩ Bắc, 108,10 độ kinh Đông, và được đánh giá là lớn nhất từ trước đến nay.
Lại là chuyện động đất, có lẽ chưa khi nào, nơi nào và ở quốc gia nào mà lại xảy ra động đất nhiều như ở thủy điện Sông Tranh 2 huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.
Trong vòng một tháng lại xảy ra hàng chục rung chấn, có ngày 5-6 vụ…đến nỗi người dân giơ hai tay đầu hàng, “ chúng tôi chịu hết nỗi rồi Trời ơi ” , “ nó càng ngày càng mạnh khủng khiếp quá “, “ chúng tôi nhảy ra khỏi cửa sổ, may mà chưa có ai bị thương, tôi run quá “, “…” .Vậy mà cách đây hai hôm tại cuộc họp Quốc Hội các bộ trưởng trả lời chất vấn một cách vô cảm, đập “an toàn”.Ai nói an toàn, người dân cứ yên tâm thì mời lên đây sống chung với người dân “cho vui” để chứng kiến động đất, xem có hoang mang, hoảng sợ để rồi khi họp hay trả lời chất vấn sẽ trả lời như thế nào ? đúng là ông bà ta nói câu không sai :“ Chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ “ .Có lẽ, muốn người dân yên tâm thì mời các bộ trưởng, các đại biểu về sống chung với dân, cứ yên tâm mà sống cho vui…?.
Đã đến lúc, chính phủ phải đặt mạng sống con người trên cả vật chất, phải vứt bỏ nó dù là năm ngàn tỷ hay trăm ngàn  tỷ…không biện hộ, không bao che, nếu không nó cứ tiếp tục nổ đùng đùng, trời đất nổi giận làm cho cuộc sống của người dân Bắc Trà My khốn đốn, giơ tay đầu hàng.
 Trong khi các nhà khoa học đã đánh cược mạng sống con người, lúc an toàn, lúc thì không, lúc thì trả lời tôi chưa yên tâm, lúc thì dân cứ yên tâm mà sống, thậm chí có bà tiến sĩ nào đó còn mạnh gan nói người dân kém hiểu biết…kể ra các ông các bà nói cũng đúng, thật thì họ có sống ở đó đâu mà biết nhỉ,
Ôi đến lúc phải giơ hai tay lên đầu hàng các ông các bà GS, TS, các nhà KH cho nó yên tâm mà chạy khi có động đất.

Làng Lụa và vườn dâu 3 thế kỷ


Làng Lụa và vườn dâu 3 thế kỷ

Đất Quảng Nam có nhiều di sản văn hóa do người Chăm để lại, như các mô típ kiến trúc đền tháp, các tác phẩm điêu khắc, phù điêu, giếng cổ và nhiều loại hình văn hóa phi vật thể khác... nhưng khi nghe nói đến một vườn dâu cổ thụ hơn 300 năm tuổi, thì tôi thấy hơi lạ.

Lạ nên đi tìm. Té ra không đâu xa, mà ở ngay cửa ngõ vào đô thị cổ Hội An: làng Lụa Quảng Nam của mấy anh chị em người họ Lê, từng nhiều đời trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa bên sông Vu Gia, Đại Lộc về đây gây dựng. Là một cựu sinh viên Đại học Kinh tế TP HCM, vừa học vừa đi bỏ mối hàng lụa cho các shop thời trang, Lê Thái Vũ cùng mấy anh chị em đã đầu tư vào một khu đất rộng chỉ 2 ha gần 40 tỉ đồng, với ý tưởng phục hồi nghề ươm tơ dệt lụa cổ truyền xứ Quảng và hình thành một bảo tàng nghề dệt lụa.
Làng Lụa và vườn dâu 3 thế kỷ
Một công đoạn từ kén đến tơ tại làng Lụa - Ảnh: Nguyễn Sông Hàn
Trong lúc lội khắp các huyện đồng bằng, trung du để tìm mua các khung nhà rường cổ, các khung dệt, xa quay tơ và những công cụ cổ của nghề tằm tang, Vũ phát hiện ra những cây dâu cổ thụ của người Chăm còn sót lại trong các vườn nhà, các cánh rừng heo hút... Những cây dâu có lá hình chân chim, đường kính gốc to mà Christophoro Borri từng mô tả trong hồi ký của mình về xứ Đàng Trong hồi giữa thế kỷ 17… Thế là một vườn dâu Chăm hơn 40 gốc được hình thành thu hút sự chú ý của nhiều du khách. Bên cạnh đó là những ngôi nhà cổ với các lò ươm tơ, nong kén, khung dệt và một bộ sưu tập hơn 70 loại trang phục cổ truyền, từ người Chăm đến người Kinh từ trước đến nay... Ngoài ra, còn có một khu nhà dành cho thiết kế trang phục lụa thời trang, các khung thêu, vẽ trên lụa sẵn sàng thỏa mãn nhu cầu may mặc hoặc tự trải nghiệm năng khiếu thêu vẽ của du khách trên chất liệu lụa Quảng Nam và một khu nghỉ, ẩm thực mà các món dân dã như nhộng xào, rượu dâu luôn có sẵn…
Tại Bảo tàng làng Lụa Hội An còn có một không gian trang nghiêm để thờ Bà chúa tằm tang Đoàn Quý Phi, Hiếu Chiêu hoàng hậu. Người phụ nữ hái dâu trở thành giai thoại trong tình sử với chúa Nguyễn Phúc Lan và được nhân dân tôn thờ như bà tổ nghề tằm tang vì đã có công khuyến khích nghề này tại những ngôi làng ven hai con sông lớn Thu Bồn, Vu Gia của xứ Quảng. “Người Đàng Trong không những cung cấp tơ cho nhu cầu của họ mà còn cung cấp cho Nhật Bản và đưa sang vương quốc Lào để từ đó người ta chuyển đến Tây Tạng, bởi lẽ loại tơ này tuy không nhỏ mịn bằng loại tơ của Trung Hoa nhưng bền chắc hơn nhiều”, mô tả này của C.Borri hồi thế kỷ 17 đã cho thấy công lao của quý phi họ Đoàn, và điều quan trọng nữa là nó ẩn chứa trong đó di sản nghề tằm tang mà người Chăm trên đất Quảng để lại, trong đó có công nghệ nuôi tằm, trồng dâu độc đáo của họ…
Bởi vậy, đến làng Lụa Hội An, vào thăm vườn dâu cổ thụ hơn 3 thế kỷ và các bộ sưu tập công cụ tằm tang ở đây, nhiều người cho rằng có một truyền thống  “văn hóa tơ lụa” trong di sản văn hóa Quảng Nam đã và đang hình thành. Và lạ thay, một lần nữa Hội An lại được chọn.
Nguyễn Sông Hàn
Nguồn : Báo Thanh Niên